Sào, mẫu, công ra m²: quy đổi theo Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ
1 sào Bắc Bộ 360 m², Trung Bộ 500 m², 1 công Nam Bộ 1.000 m²; 1 mẫu = 10 sào. Chọn vùng rồi quy đổi hai chiều sang m² và ha, ghi rõ quy ước hay chính xác.
1 sào Bắc Bộ là 360 m², Trung Bộ 500 m², còn ở Nam Bộ 1 công là 1.000 m². 1 mẫu = 10 sào ở cả ba vùng, nên một mẫu có thể là 3.600, 5.000 hay 10.000 m². Trang này bắt chọn vùng trước rồi mới quy đổi hai chiều sang m² và hecta, và ghi rõ con số nào là quy ước theo vùng, con số nào chính xác theo định nghĩa.
| Mét vuông | — |
|---|---|
| Hecta | — |
| Sào (hoặc công) | — |
| Mẫu | — |
| Công | — |
| Cùng con số ở hai vùng còn lại | — |
| Nếu thửa đất là hình vuông | — |
| Con số trong bảng này từ đâu ra | — |
Sào không có một đáp án. Ở đồng bằng Bắc Bộ, 1 sào là 360 m² và 1 mẫu là 10 sào, tức 3.600 m². Ở Trung Bộ, 1 sào là 500 m² và 1 mẫu là 5.000 m². Ở Nam Bộ, đơn vị hay dùng là công, 1 công là 1.000 m², và 1 mẫu 10 công là 10.000 m², vừa đúng một hecta. Tỷ lệ 10 sào một mẫu giữ nguyên ở cả ba vùng; chỉ có diện tích của sào đổi. Vì thế câu hỏi "một mẫu bao nhiêu mét vuông" không trả lời được khi chưa biết thửa đất ở đâu, và trang này không đặt vùng mặc định: chọn sai vùng thì con số sai gần gấp ba.
Ba con số 360, 500, 1.000 là quy ước lâu năm, không phải văn bản pháp quy. Đơn vị đo lường chính thức của Việt Nam là mét vuông và hecta. Sào, mẫu, công là đơn vị dân gian, sống trong lời rao bán, trong thỏa thuận thuê ruộng và trong cách người trong vùng gọi diện tích với nhau. Trang này không trích dẫn nghị định, thông tư hay TCVN nào cho ba con số đó, vì không có văn bản nào được đọc để trích. Ba giá trị được xếp loại là quy ước, và bảng kết quả ghi rõ điều đó ở dòng cuối. Ngược lại, 1 ha = 10.000 m² là giá trị chính xác theo định nghĩa của hệ mét, và mọi bước quy đổi giữa m² và ha trên trang này không làm tròn.
Sổ đỏ ghi mét vuông, và sổ đỏ quyết định. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi diện tích thửa đất bằng m² theo kết quả đo đạc. Một thửa rao là "5 sào" ở Bắc Bộ có thể trên sổ là 1.780 hay 1.815 m², vì người bán đã làm tròn. Khi mua bán, tách thửa hay tranh chấp ranh giới, lấy số m² trên sổ rồi chia cho 360, 500 hay 1.000 để ra sào, chứ không lấy số sào trong lời rao nhân ngược lại. Trang này chỉ quy đổi đơn vị; nó không xác nhận diện tích, ranh giới hay hình dạng thửa đất, và không thay cho bản đo địa chính.
Diện tích không cho biết cạnh. 1.800 m² có thể là thửa 30 × 60 m, 20 × 90 m hay một hình vuông cạnh 42,4 m. Chu vi của ba thửa đó lần lượt là 180, 220 và 169,7 m, mà chu vi là chiều dài hàng rào, là số cọc và số bao xi măng chôn cọc. Không thể đặt hàng rào "cho 5 sào"; chiều dài lấy từ bản đo địa chính hoặc kéo thước theo ranh. Dòng "nếu thửa đất là hình vuông" trong bảng chỉ là trường hợp chu vi ngắn nhất cho cùng diện tích, để so sánh.
Từ sào ra khối đất nâng nền. Nâng nền 1 sào Bắc Bộ thêm 20 cm cần 360 × 0,2 = 72 m³, tức 72 khối đất đã lu lèn. Cùng lớp 20 cm trên 1 công Nam Bộ là 200 khối, trên 1 mẫu Trung Bộ là 1.000 khối. Đó là thể tích sau khi đầm, không phải số xe: đất và cát chở đến lún khi lu, và mỗi thầu tính phần hao hụt theo cách riêng. Trang này không cộng phần hao hụt đó. Dưới sào còn có thước, nhưng số thước trong một sào và diện tích một thước cũng đổi theo vùng, nên trang này không quy đổi thước.
1 ha = 10.000 m²: chính xác theo định nghĩa của hệ mét, và trang này tính giữa m² và ha không làm tròn. 1 sào Bắc Bộ = 360 m², 1 sào Trung Bộ = 500 m², 1 công Nam Bộ = 1.000 m², 1 mẫu = 10 sào hoặc 10 công: bốn giá trị này là quy ước lâu năm theo vùng, được ghi lại ở đây đúng như cách người trong vùng dùng, và không được trích từ nghị định, thông tư hay TCVN nào, vì trang này chưa đọc văn bản nào quy định chúng. Cách gọi cũ "mẫu tây" chỉ hecta, còn "mẫu ta" là mẫu theo vùng; trang này dùng chữ mẫu theo nghĩa mẫu ta. Con số công tầm lớn 1.296 m² (36 × 36 m) đôi khi được nhắc ở Nam Bộ là con số nghe truyền miệng, không tìm được nguồn gốc rõ, nên trang này không tính theo nó. Không có hằng số nào trên trang này lấy từ nguồn Mỹ. Diện tích trên sổ đỏ là kết quả đo đạc địa chính; trang này chỉ quy đổi đơn vị, không xác nhận diện tích, ranh giới hay hình dạng thửa đất, và không phải tư vấn pháp lý. Số liệu nhập vào không rời khỏi trình duyệt.
Ví dụ tính toán
Thửa đất rao bán 5 sào ở Bắc Bộ: bao nhiêu mét vuông, bao nhiêu hecta, bao nhiêu mẫu, và cùng 5 sào đó ở Trung Bộ, Nam Bộ là bao nhiêu?
- Quy ước Bắc Bộ: 1 sào = 360 m². 5 × 360 = 1.800 m². Đây là quy ước lâu năm, không phải văn bản pháp quy; sổ đỏ ghi số m² đo được, có thể là 1.780 hay 1.815.
- 1 ha = 10.000 m² chính xác theo định nghĩa, nên 1.800 ÷ 10.000 = 0,18 ha, không làm tròn.
- 1 mẫu = 10 sào ở mọi vùng, nên 5 sào = 0,5 mẫu; ở Bắc Bộ 1 mẫu = 3.600 m².
- Cùng 5 sào ở Trung Bộ: 5 × 500 = 2.500 m². Ở Nam Bộ, sào được hiểu là công: 5 × 1.000 = 5.000 m². Cùng một chữ sào, ba con số.
- Nếu thửa là hình vuông, cạnh là √1.800 = 42,426 m và chu vi 169,71 m; thửa 30 × 60 m cùng diện tích có chu vi 180 m, nên chiều dài hàng rào không suy ra được từ số sào.
1.800 m², 0,18 ha, 0,5 mẫu theo quy ước Bắc Bộ. Cùng 5 sào ở Trung Bộ là 2.500 m², ở Nam Bộ 5.000 m². Diện tích pháp lý là số m² trên sổ đỏ; con số sào trong lời rao chỉ là cách nói của người bán.
12 giá trị trên trang này đã được tính trong trình duyệt thật ngày 2026-09-09 và đối chiếu với giá trị kỳ vọng tính riêng (toàn trang 2258 giá trị, 188 công cụ).
Câu hỏi thường gặp
1 sào bằng bao nhiêu m²?
Tùy vùng. Theo quy ước lâu năm, 1 sào Bắc Bộ là 360 m², 1 sào Trung Bộ là 500 m², còn ở Nam Bộ người ta dùng công, 1 công là 1.000 m², và chữ sào ở đó cũng được hiểu là công. Ba con số này là quy ước dân gian, không phải văn bản pháp quy; đơn vị chính thức trên sổ đỏ là mét vuông.
1 mẫu bằng bao nhiêu m²?
1 mẫu = 10 sào ở cả ba vùng, nên diện tích mẫu đổi theo sào: 3.600 m² ở Bắc Bộ, 5.000 m² ở Trung Bộ và 10.000 m² ở Nam Bộ (10 công). Chỉ mẫu Nam Bộ trùng với 1 hecta. Cách gọi cũ mẫu tây chỉ hecta, mẫu ta chỉ mẫu theo vùng.
1 công đất bằng bao nhiêu m²?
1 công Nam Bộ = 1.000 m² theo quy ước phổ biến, 10 công = 1 mẫu = 1 ha. Ở Nam Bộ đôi khi còn nghe công tầm lớn 1.296 m² (36 × 36 m); con số này truyền miệng, không tìm được nguồn gốc rõ, nên khi mua bán lấy số m² trên sổ đỏ. Ở Bắc Bộ và Trung Bộ, công không phải đơn vị diện tích.
1 hecta bằng bao nhiêu sào?
1 ha = 10.000 m² chính xác theo định nghĩa. Chia cho sào từng vùng: 27,78 sào Bắc Bộ (10.000 ÷ 360), 20 sào Trung Bộ, 10 công Nam Bộ. Chiều ngược lại, 1 sào Bắc Bộ = 0,036 ha, 1 sào Trung Bộ = 0,05 ha, 1 công Nam Bộ = 0,1 ha.