DATUM

Tính khối lượng bê tông: khối cho sàn, móng băng và cột tròn

Khối lượng bê tông tính bằng khối (m³) cho sàn, móng băng hoặc cột tròn, cộng 10% hao hụt cho nền không phẳng. Chỉ tính thể tích, không tính mác hay cấp phối.

Khối lượng bê tông tính bằng khối (m³) cho sàn, móng băng hoặc cột tròn, cộng phần hao hụt mà phần lớn máy tính bỏ qua. Đặt đúng khối lượng lý thuyết là cách để thiếu bê tông ở góc xa của mẻ đổ. Trang này chỉ tính thể tích. Nó không quy ra mác (M200, M250, M300), không chia cấp phối 1:2:3 thành xi măng, cát, đá, không đếm bao xi măng 50 kg, và không có ô nhập sào: diện tích thửa đất phải đổi ra mét vuông trước.

Thể tích lý thuyết
Đã cộng hao hụt
Bao bê tông khô trộn sẵn 60 lb (27.2 kg), 0.45 ft³ mỗi bao
Bao bê tông khô trộn sẵn 80 lb (36.3 kg), 0.60 ft³ mỗi bao

Hao hụt là dung sai của lớp nền, không phải bê tông rơi vãi. Ở công trường một khối là một mét khối, 1 khối = 1 m³, và con số lớn trong ô kết quả là khối lượng báo cho trạm trộn hoặc xe bồn. Mức 10% mặc định không dành cho phần đổ ra ngoài cốp pha mà cho lớp nền đất đầm dưới sàn, vốn không bao giờ nằm đúng cao độ. NRMCA trong tài liệu Concrete in Practice 8 tính như sau: sâu thêm 3 mm (1/8 in) dưới sàn dày 100 mm là thiếu 3%, tức một yard khối trong đơn hàng 32 yard. ACI 117‑10 §4.4.5 cho phép cao độ lớp nền dưới sàn trên nền đất lệch ±19 mm (3/4 in). Đó là sáu lần 3 mm nối nhau, nên ô này để 10% chứ không phải 0.

Dung sai chỉ chạy một chiều. §4.5.4 của cùng tài liệu giới hạn chiều dày sàn trên nền đất về phía mỏng: −10 mm (3/8 in) theo trung bình các điểm đo và −19 mm (3/4 in) cho bất kỳ điểm nào. Không có giới hạn phía dày, và không ai đo phần dày hơn thiết kế. Quy tắc thì đối xứng, mục tiêu thì một phía. CIP 8 dẫn ASTM C94 xếp việc đào quá sâu và chuẩn bị nền vào nhóm none of which are the responsibility of the producer. Bê tông bán theo khối lượng rời khỏi bồn, nên phần sâu thêm nằm trên phiếu giao hàng của bên mua. Cả hai tài liệu đều của Mỹ. Ở Việt Nam dung sai do hồ sơ thiết kế quy định và trạm trộn giao theo quy tắc riêng của họ: bước đặt hàng và khối lượng tối thiểu mỗi chuyến xe hỏi thẳng nhà cung cấp.

Trang này không chia bê tông thành xi măng, cát và đá. Con số trong ô là thể tích bê tông thương phẩm đặt theo khối từ trạm trộn. Mác do xi măng, nước và cốt liệu quyết định và được xác nhận bằng mẫu nén, không phải bằng tỷ lệ trộn, nên ở đây không có ô M200, M250 hay M300. Nếu trộn tại chỗ, khối lượng công việc được quy ra vật tư riêng. Cách ước lượng thường gặp trong nghề: nhân thể tích bê tông với 1.54 để ra thể tích vật liệu khô, rồi chia theo phần của cấp phối, tính một bao xi măng 50 kg khoảng 0.035 m³. Với cấp phối 1:2:3 được khoảng 7.3 bao, chừng 367 kg xi măng mỗi khối; với 1:2:4 khoảng 6.3 bao, chừng 315 kg; với 1:3:5 khoảng 4.9 bao, chừng 245 kg. Phần hao hụt ở ô trên nhân vào cùng các phần đó. Các tỷ lệ này và hệ số 1.54 là quy tắc ước tính của thầu theo tập quán Mỹ, không lấy từ một tài liệu Việt Nam nào đã đọc cho trang này. Chúng đủ dùng để lập dự toán và mua vật tư, không thay cho thiết kế cấp phối theo mác.

Thiếu bê tông đắt hơn thừa, và sào đổi ra mét vuông trước khi nhập. ACI định nghĩa mạch ngừng là chỗ gián đoạn do ngừng đổ đủ lâu để hai lớp không còn bám dính. Đó là một mặt phẳng xuyên qua sàn mà không ai vẽ trong bản vẽ và không ai đặt thép chờ. CIP 8 khuyên tính lại phần còn thiếu khi gần cuối mẻ đổ và điều chỉnh hai hoặc ba xe cuối, thay vì chờ một chuyến bổ sung khi trạm đã đóng cửa. Diện tích thửa đất trên sổ đỏ ghi bằng m², còn khi mua bán người ta nói theo sào hoặc công, và trang này không có ô cho các đơn vị đó. Đổi trước khi nhập: 1 ha = 10 000 m² là giá trị chính xác theo định nghĩa; sào Bắc Bộ 360 m², sào Trung Bộ 500 m², công Nam Bộ 1 000 m² là quy ước vùng miền, mỗi nơi một giá trị, nên ghi rõ đang dùng giá trị nào. Lớp sàn 100 mm trên một sào Bắc Bộ là 360 × 0.1 = 36 khối trước hao hụt.

Sản lượng mỗi bao lấy từ số liệu kỹ thuật của Quikrete (Technical Data Sheet #1101): bao 80 lb cho 0.60 ft³, bao 60 lb cho 0.45 ft³, tức 45 và 60 bao cho một yard khối. Cả hai dòng nói về bê tông khô trộn sẵn đóng bao của Mỹ, không phải bao xi măng 50 kg ở Việt Nam: xi măng trong bao chỉ là chất kết dính, chưa có cát và đá, nên hai dòng trong bảng không áp dụng cho nó. Hãng khác cho sản lượng khác, đọc trên bao. Các dung sai ACI 117 và ghi chú NRMCA CIP 8 ở trên là tài liệu Mỹ. Phần thập phân trong ô kết quả ngăn bằng dấu chấm, đúng như widget in ra. Quy đổi: 1 khối = 1 m³, 1 yd³ = 27 ft³, 1 ft³ = 0.0283168 m³, 1 lb = 0.4536 kg, 1 ha = 10 000 m².

Ví dụ tính toán

Sàn nhà 6 × 4 m dày 100 mm cần bao nhiêu khối bê tông?

  1. 6 × 4 × 0.1 = 2.4 m³. Đây là 2.4 khối theo bản vẽ.
  2. Hao hụt 10% cho sàn trên nền đất, đúng mức mặc định trong ô: 2.4 × 1.1 = 2.64 khối. Con số này báo cho trạm trộn.
  3. Cùng khối lượng đó theo đơn vị Mỹ: 3.14 yd³ lý thuyết và 3.45 yd³ đã cộng hao hụt, 93.2 ft³. Nếu mua bao bê tông khô 80 lb thì cần 156 bao.

Đặt 2.64 khối, làm tròn lên theo bước mà trạm trộn nhận: nếu trạm giao theo bước nửa khối thì là 3 khối. Phần 0.24 khối dư so với bản vẽ là dung sai cao độ của lớp nền đất đầm dưới sàn, không phải bê tông rơi vãi: sàn 100 mm mà nền thấp hơn 5 mm là mất 5%. Khối lượng này đi xe bồn. Nếu trộn từ bao thì là 156 bao 80 lb, khoảng 6.2 tấn ngắn Mỹ trộn tay, nên hỏi giá bê tông tươi trước.

9 giá trị trên trang này đã được tính trong trình duyệt thật ngày 2026-09-09 và đối chiếu với giá trị kỳ vọng tính riêng (toàn trang 2258 giá trị, 188 công cụ).

Câu hỏi thường gặp

Sàn 6 × 4 m dày 10 cm hết bao nhiêu khối bê tông?

2.4 khối lý thuyết và 2.64 khối khi cộng 10% hao hụt cho lớp nền không phẳng. 1 khối = 1 m³, nên con số trong ô báo thẳng cho trạm trộn, không cần đổi. Làm tròn lên theo bước mà nhà cung cấp nhận: bước nửa khối thì thành 3 khối.

Một khối bê tông cần bao nhiêu bao xi măng?

Trang này không tính: nó cho thể tích bê tông thương phẩm, không chia ra xi măng, cát, đá. Cách ước lượng thường gặp của thầu: nhân thể tích với 1.54 rồi chia theo phần của cấp phối, tính bao xi măng 50 kg khoảng 0.035 m³. Với 1:2:3 được khoảng 7.3 bao (chừng 367 kg) mỗi khối, 1:2:4 khoảng 6.3 bao (chừng 315 kg), 1:3:5 khoảng 4.9 bao (chừng 245 kg). Các tỷ lệ này và hệ số 1.54 là tập quán ước tính của Mỹ, không lấy từ tài liệu Việt Nam đã đọc cho trang này. Đây là số để lập dự toán, không phải thiết kế cấp phối: mác M200 hay M300 xác nhận bằng mẫu nén, không bằng tỷ lệ.

Khối bê tông là gì, và đổi sào ra mét vuông thế nào?

Khối là mét khối, 1 khối = 1 m³. Trạm trộn và xe bồn đều tính theo khối. Trang này không có ô sào hay công, nên đổi diện tích trước: sổ đỏ ghi bằng m², 1 ha = 10 000 m² là chính xác theo định nghĩa. Sào Bắc Bộ 360 m², sào Trung Bộ 500 m², công Nam Bộ 1 000 m² là quy ước vùng miền, mỗi nơi một giá trị. Lớp sàn 100 mm trên một sào Bắc Bộ là 360 × 0.1 = 36 khối trước hao hụt.